DỰ BÁO KINH TẾ TOÀN CẦU

Tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2023 được các tổ chức quốc tế dự báo thấp hơn tốc độ tăng trưởng năm 2022

Tại thời điểm cuối năm 2023, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2023 được các tổ chức quốc tế điều chỉnh so với dự báo trước đây nhưng hầu hết các dự báo đều thấp hơn tốc độ tăng trưởng năm 2022. Cụ thể, Liên minh châu Âu (EU) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2023 đạt 3,1%, điều chỉnh tăng 0,3 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 5/2023, thấp hơn mức tăng 3,3% của năm 2022; Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2023 đạt 3,0%, giữ nguyên dự báo tháng 7/2023, thấp hơn mức tăng 3,5% năm 2022; Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) nhận định kinh tế toàn cầu năm 2023 tăng trưởng 2,9%, điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 9/2023 và thấp hơn mức tăng 3,3% năm 2022; Fitch Ratings (FR) dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2023 đạt 2,9%, cao hơn 0,4 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 9/2023 và cao hơn mức tăng 2,7% năm 2022; Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định tăng trưởng toàn cầu đạt 2,1% năm 2023, giữ nguyên dự báo trong tháng 6/2023 và thấp hơn mức tăng 3,1% năm 2022. Đối với năm 2024, hầu hết các tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng toàn cầu tiếp tục suy giảm và đạt mức thấp hơn năm 2023.

Hình 1. Đánh giá tăng trưởng toàn cầu năm 2022 và dự báo năm 2023, 202

 Dự báo tình hình kinh tế thế giới quý IV và năm 2023

 

            Nguồn: EU, IMF, OECD, Fitch Ratings và WB
 

Tổng quan biến động thị trường thế giới

Thương mại hàng hóa toàn cầu tiếp tục giảm trong năm 2023

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhận định khối lượng thương mại hàng hóa toàn cầu dần phục hồi với động lực đến từ doanh số bán và sản xuất ô tô cũng như thương mại linh kiện điện tử, với chỉ số tổng hợp là 100,7. Tuy nhiên, các chỉ số thành phần cho thấy bức tranh khác nhau về thương mại toàn cầu, với một số chỉ số tăng vững chắc trên xu hướng và các chỉ số khác vẫn dưới xu hướng. Mức tăng lớn nhất ở các chỉ số về sản xuất và bán ô tô (110,0), thương mại linh kiện điện tử (109,8), vận tải hàng không (100,3). Các chỉ số gần đạt mức xu hướng gồm đơn hàng xuất khẩu (99,4) và vận chuyển container (98,0), trong khi chỉ số nguyên liệu thô (95,6) giảm sâu dưới xu hướng.

Theo IMF, tăng trưởng thương mại thế giới dự kiến đạt 0,9% trong năm 2023, trước khi tăng lên 3,5% năm 2024, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 4,9% của giai đoạn 2000-2019. OECD có cùng nhận định với IMF, cho rằng tăng trưởng thương mại 2023 yếu và độ mở thương mại giảm.

Lạm phát toàn cầu có xu hướng giảm trong năm 2023

IMF nhận định lạm phát toàn cầu dự kiến sẽ giảm dần từ mức đỉnh 8,7% năm 2022 xuống 6,9% năm 2023 và 5,8% năm 2024. Giá hàng hóa quốc tế giảm là nguyên nhân chính khiến lạm phát dự kiến giảm năm 2023. Theo OECD, lạm phát chung đã giảm ở hầu hết các nền kinh tế chủ yếu là do sự đảo chiều giá năng lượng.

Thị trường được dự báo sẽ vẫn nhạy cảm với các dấu hiệu xung đột ngày càng mở rộng ở Trung Đông. Giá kim loại dự kiến vẫn ổn định đến hết năm 2024 do nhu cầu yếu hơn từ Trung Quốc và dự trữ thế giới tăng cao đã bù đắp cho nhau, đồng thời đối trọng với thông báo về hạn chế nguồn cung mới đối với một số kim loại và chi phí sản xuất tăng. Sau các cuộc tấn công vào Israel, giá vàng đã tăng khoảng 10% và đạt 2000 USD/ounce. Giá bạc cũng có xu hướng tăng.

Chỉ số giá lương thực, thực phẩm của FAO (FFPI) đạt trung bình 120,4 điểm vào tháng 11/2023, không thay đổi nhiều so với tháng 10/2023, do chỉ số giá dầu thực vật, các sản phẩm từ sữa và đường tăng, đối trọng là giảm giá ngũ cốc và thịt. Chỉ số này thấp hơn 14,4 điểm (10,7%) so với cùng kỳ năm trước.

Điều kiện tài chính toàn cầu có xu hướng hạn chế hơn  

Theo OECD, các điều kiện tài chính đã bị thắt chặt ở hầu hết các nền kinh tế lớn, phản ánh tác động tích lũy của việc tăng lãi suất chính sách và thắt chặt định lượng, đánh giá lại của các bên tham gia thị trường về lộ trình lãi suất chính sách dự kiến trong tương lai và một số định giá lại rủi ro trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng.

Thị trường lao động có dấu hiệu ổn định

Theo Liên Hợp Quốc (UNDESA) thị trường lao động ở các nền kinh tế phát triển có dấu hiệu ổn định. Trong ba quý đầu năm 2023, thị trường lao động ở các nền kinh tế phát triển tiếp tục quay trở lại tình trạng trước đại dịch. OECD nhận định trong khi tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức thấp, các dấu hiệu nới lỏng thị trường lao động đã bắt đầu xuất hiện ở nhiều nền kinh tế, bao gồm tốc độ tăng trưởng việc làm hàng năm chậm lại, tỷ lệ bỏ việc giảm, số vị trí tuyển dụng thấp hơn và trong một số trường hợp tỷ lệ thất nghiệp tăng nhẹ.

Một số nhân tố rủi ro tác động tới triển vọng kinh tế thế giới

IMF chỉ ra sáu nhân tố rủi ro chính làm giảm triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu, gồm:

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc tiếp tục chậm lại. Những diễn biến gần đây cho thấy tăng trưởng của Trung Quốc dự báo đi xuống, tác động tiêu cực lên các đối tác thương mại của nước này.

Thứ hai, giá hàng hóa ngày càng biến động do các cú sốc về khí hậu và địa chính trị. Biến đổi khí hậu có thể dẫn tới tình trạng mất mùa thường xuyên hơn ở các quốc gia, khiến giá lương thực tăng cao. Cuộc xung đột ở U-crai-na và căng thẳng địa chính trị ở những nơi khác có thể gia tăng, gây gián đoạn chuỗi cung ứng và những biến động mới về lương thực, nhiên liệu, phân bón và giá cả hàng hóa khác. Ngoài ra, sự phân mảnh địa kinh tế ngày càng tăng có thể hạn chế dòng chảy hàng hóa giữa các khu vực, gia tăng biến động giá.

Thứ ba, áp lực lạm phát vẫn tiềm ẩn. Trong khi lạm phát chung bắt đầu giảm ở hầu hết các quốc gia, lạm phát cơ bản vẫn cao hơn mức mục tiêu của các ngân hàng trung ương. Gián đoạn nguồn cung dầu do những xáo trộn địa chính trị có thể có tác động lâu dài đến thị trường toàn cầu. Giá năng lượng cao hơn làm tăng nguy cơ mất kiểm soát lạm phát.

Thứ tư, định giá lại thị trường tài chính. Tuy thị trường tài chính đã được điều chỉnh theo những kỳ vọng về gia tăng thắt chặt chính sách tiền tệ từ tháng 4/2023, nhưng khi các nhà hoạch định chính sách hành động mạnh hơn dự kiến có thể dẫn tới tăng cao lãi suất kỳ vọng và giá tài sản giảm. Việc tăng lãi suất cùng với hoạt động kinh tế chậm lại ở các nền kinh tế phát triển có thể làm gia tăng các khoản nợ xấu, làm giảm giá trị tài sản dài hạn.

Thứ năm, phân mảnh địa kinh tế ngày càng gia tăng, cản trở hợp tác đa phương. Sự chia cắt kinh tế thế giới thành các khối trong bối cảnh cuộc xung đột ở U-crai-na và những căng thẳng địa chính trị khác có thể gia tăng, dẫn tới nhiều hạn chế về thương mại.

Thứ sáu, bất ổn xã hội có xu hướng gia tăng. Các báo cáo về tình trạng bất ổn xã hội đã giảm trên toàn cầu kể từ khi đạt mức cao vào cuối năm 2019. Tuy nhiên, nếu bất ổn xã hội tái diễn (do giá lương thực và nhiên liệu tăng đột biến trong tương lai), có thể sẽ gây tổn hại cho hoạt động kinh tế.

TĂNG TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ NỀN KINH TẾ

Hoa Kỳ. Các tổ chức quốc tế đều điều chỉnh tăng đối với dự báo tăng trưởng của Hoa Kỳ. Cụ thể: OECD, ADB, FR đều dự báo tăng trưởng GDP năm 2023 của nền kinh tế Hoa Kỳ đạt 2,4%, lần lượt điều chỉnh tăng 0,2 điểm phần trăm, 0,4 điểm phần trăm và  0,5 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra vào tháng 9/2023. IMF dự báo tăng trưởng GDP của Hoa Kỳ đạt 2,1% năm 2023, điều chỉnh tăng 0,3 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 7/2023. Trong khi đó, kinh tế Hoa Kỳ sẽ tăng trưởng chậm lại trong năm 2024, thấp hơn nhiều so với năm 2023, lần lượt đạt 1,8%, 1,5%, 1,5% và 1,2% năm 2024 theo dự báo của ADB, OECD, IMF và FR.

Hình 2. Đánh giá tăng trưởng của Hoa Kỳ năm 2022 và dự báo năm 2023 và 2024


Dự báo tình hình kinh tế thế giới quý IV và năm 2023 1

Nguồn: IMF, OECD, ADB, Fitch Ratings

Biểu đồ trên cho thấy, hầu hết các tổ chức quốc tế cho rằng, năm 2022 tăng trưởng kinh kế của Hoa Kỳ đạt gần 2%, dự báo năm 2023 có mức tăng cao hơn (đạt khoảng 2,4%). Tuy nhiên năm 2024 tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ sẽ thấp hơn năm 2023 từ 0,6 đến 1,2 điểm phần trăm (chỉ đạt khoảng 1,5%).

Trading Economics dự báo tăng trưởng GDP Quý IV/2023 của Hoa Kỳ tăng 1,9% so với quý trước và tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2022.

Theo Trading Economics, chỉ số PMI tổng hợp của Hoa Kỳ tháng 12/2023 đạt 51 điểm, tăng 0,3 điểm so với mức 50,7 điểm của tháng 11/2023, đánh dấu tháng tăng trưởng thứ 3 liên tiếp của khu vực tư nhân và đạt tốc độ tăng nhanh nhất kể từ tháng 7/2023 nhờ có số lượng đơn hàng mới tăng mạnh và lĩnh vực dịch vụ thúc đẩy tăng trưởng.

Khu vực đồng Euro có xu hướng trái ngược cho năm 2023 và 2024 so với Hoa Kỳ. Tăng trưởng năm 2023 được OECD giữ nguyên mức dự báo như trong tháng 6/2023, đạt 0,6%. Các tổ chức quốc tế khác đều điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng. Cụ thể: FR và ADB dự báo tăng trưởng kinh tế khu vực đồng Euro năm 2023 đạt 0,5%, điều chỉnh giảm lần lượt 0,1 điểm phần trăm và  0,2 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 9/2023. IMF dự báo tăng trưởng GDP của khu vực đồng Euro đạt 0,7% năm 2023, điều chỉnh giảm 0,2 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra vào tháng 7/2023.

Năm 2024, FR, ADB, OECD và IMF dự báo tăng trưởng của khu vực đồng Euro lần lượt đạt 0,7%, 0,8%, 0,9% và 1,2% năm 2024, đều cao hơn so với tăng trưởng năm 2023. 

Hình 3. Đánh giá tăng trưởng của khu vực đồng Euro năm 2022 và dự báo
năm 2023 và 2024 

Dự báo tình hình kinh tế thế giới quý IV và năm 2023 2

Nguồn: IMF, OECD, ADB, Fitch Ratings
 

Các tổ chức quốc tế nhận định sau khi đạt mức 3,4% trong năm 2022, tăng trưởng kinh tế khu vực đồng Euro đã chậm lại trong năm 2023 với mức tăng khoảng 0,6% và sẽ tăng khoảng 1% trong năm 2024. Theo Trading Economics, GDP Quý IV/2023 của khu vực đồng Euro dự báo tăng 0,2% so với Quý III/2023 và tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước. 

Chỉ số PMI tổng hợp trong tháng 12/2023 của khu vực đồng Euro giảm xuống còn 47 điểm, từ mức 47,6 điểm trong tháng 11/2023, phản ánh đà giảm tháng thứ 7 liên tiếp của các hoạt động kinh doanh và giảm tháng thứ 9 liên tiếp của hoạt động công nghiệp chế biến chế tạo và lĩnh vực dịch vụ, kết hợp với sự sụt giảm đơn hàng mới và lượng công việc tồn đọng giảm mạnh.

Nhật Bản. OECD và ADB điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng GDP của nền kinh tế này, FR giữ nguyên dự báo trong khi IMF có đánh giá khả quan hơn và điều chỉnh tăng dự báo. Cụ thể: ADB dự báo tăng trưởng GDP năm 2023 của nền kinh tế nước này đạt 1,6%, điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 9/2023. OECD dự báo tăng trưởng GDP của nền kinh tế Nhật Bản đạt 1,7% năm 2023, điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 9/2023. FR giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP của nền kinh tế Nhật Bản năm 2023 ở mức 2,0% như đã đưa ra trong dự báo vào tháng 9/2023. IMF dự báo tăng trưởng kinh tế Nhật Bản đạt 2,0% năm 2023, điều chỉnh tăng 0,6 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 7/2023.

Đối với năm 2024, tăng trưởng kinh tế Nhật Bản đều được các tổ chức quốc tế dự báo thấp hơn so với năm 2023, từ 0,6% theo dự báo của ADB, 0,8% của FR đến 1,0% của OECD và IMF.

Hình 4. Đánh giá tăng trưởng của Nhật Bản năm 2022 và dự báo năm 2023 và 2024 

Dự báo tình hình kinh tế thế giới quý IV và năm 2023 3 

Nguồn: IMF, OECD, ADB, Fitch Ratings
 

Theo biểu đồ trên, các tổ chức quốc tế đều cho rằng, năm 2022 tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản đạt dưới 1%, năm 2023 dự kiến đạt gần 2% và sẽ đạt khoảng 1% trong năm tới. Theo Trading Economics, GDP Quý III/2023 của nền kinh tế Nhật Bản dự báo tăng 0,4% so với quý trước và tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số PMI tổng hợp tháng 12/2023 của Nhật Bản đạt 50,4 điểm, tăng 0,8 điểm so với chỉ số của tháng 11/2023, phản ánh mức tăng mạnh của ngành dịch vụ, bù đắp cho đơn hàng giảm và tăng trưởng doanh thu khiêm tốn của khu vực dịch vụ.

Trung Quốc. Cả OECD và ADB đều đưa ra nhận định khả quan về tăng trưởng GDP của Trung Quốc năm 2023 và điều chỉnh tăng dự báo cho nền kinh tế nước này. Cụ thể: OECD và ADB dự báo tăng trưởng ở Trung Quốc đạt 5,2% năm 2023, điều chỉnh tăng lần lượt 0,1 điểm phần trăm và 0,3 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 9/2023. FR dự báo tăng trưởng GDP của Trung Quốc đạt 5,3% năm 2023, điều chỉnh giảm 0,5 điểm phần trăm cho năm 2023 so với dự báo trong tháng 9/2023. IMF dự báo GDP của Trung Quốc đạt 5,0%, điều chỉnh giảm 0,2 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra vào tháng 7/2023.

Hình 5. Đánh giá tăng trưởng của Trung Quốc năm 2022
và dự báo năm 2023 và 2024

Dự báo tình hình kinh tế thế giới quý IV và năm 2023 4

Nguồn: IMF, OECD, ADB, Fitch Ratings
 

Các tổ chức quốc tế thống nhất nhận định kinh tế Trung Quốc sau khi đạt mức tăng trưởng 3% trong năm 2022 đã tăng tốc trong năm 2023 với mức tăng trưởng đạt khoảng 5,2%, mặc dù không như kỳ vọng nhưng vẫn thuộc nhóm các nước có mức tăng trưởng cao trên thế giới. Tất cả các tổ chức IMF, ADB, FR và OECD đều nhận định tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2024 thấp hơn năm 2023, lần lượt là 4,2%, 4,5%, 4,6% và 4,7% do khủng hoảng thị trường bất động sản và đầu tư yếu đi. Theo Trading Economics, GDP Quý IV/2023 của nền kinh tế Trung Quốc tăng 1,1% so với Quý III/2023 và tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2022.

Chỉ số PMI tổng hợp của Trung Quốc đạt 51,6 điểm trong tháng 11/2023, tăng 1,6 điểm so với tháng trước đó, phản ánh tháng tăng trưởng thứ 11 liên tiếp của hoạt động khu vực tư nhân và đạt tốc độ nhnh nhất kể từ tháng 8/2023.

Đông Nam Á. Trong báo cáo Triển vọng phát triển châu Á tháng 12/2023, ADB điều chỉnh tăng trưởng của Đông Nam Á năm 2023 giảm 0,3 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 9/2023, đạt 4,3%, phản ánh hiệu quả hoạt động vẫn còn yếu trong lĩnh vực chế biến, chế tạo khi môi trường thương mại đã cởi mở hơn tại các nền kinh tế định hướng xuất khẩu như Ma-lai-xi-a, Thái Lan và Việt Nam.

ADB dự báo tăng trưởng GDP của một số nền kinh tế khu vực Đông Nam Á như sau: In-đô-nê-xi-a đạt tăng trưởng 5,0% cho năm 2023 và 2024 do nhu cầu trong nước vững. Tăng trưởng của Ma-lai-xi-a năm 2023 và 2024 lần lượt đạt 4,2% và 4,6%; Phi-li-pin 5,7% và 6,2%; Thái Lan 2,5% và 3,3%; Xin-ga-po 1,0% và 2,5%.

Hình 6. Đánh giá tăng trưởng của một số quốc gia ASEAN năm 2022
và d
ự báo
năm 2023 và 2024

Dự báo tình hình kinh tế thế giới quý IV và năm 2023 5

Nguồn: ADB
 

Hầu hết các nước ASEAN đều được các tổ chức quốc tế đánh giá sẽ đạt mức tăng trưởng trong năm 2023 thấp hơn năm 2022 nhưng sẽ khả quan hơn trong năm 2024, ngược với xu hướng chung của toàn cầu. Theo Trading Economics, dự báo tăng trưởng Quý IV/2023 so với cùng kỳ năm trước của In-đô-nê-xi-a đạt 4,3%; Ma-lai-xi-a 2,0%; Phi-li-pin 4,9%; Thái Lan 2,1%, Xin-ga-po 0,9%. Tăng trưởng Quý IV/2023 so với quý trước của các quốc gia trên lần lượt là -0,9%; 1,0%; 1,7%; 0,6% và 1,1%.

Việt Nam. ADB, IMF và WB đều dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam chậm lại, do đó đã điều chỉnh giảm tăng trưởng GDP năm 2023 so với dự báo trước đó. Cụ thể, ADB  dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2023 đạt 5,2%, điều chỉnh giảm 0,6 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 9/2023 và đạt 6,0% cho năm 2024. WB dự báo tăng trưởng năm 2023 của Việt Nam đạt 4,7%, giảm 1,6 điểm phần trăm so với dự báo tháng 4/2023. Trong năm 2024, tăng trưởng của Việt Nam được cải thiện lên mức 5,5%, giảm 1 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 4/2023. IMF dự kiến tăng trưởng năm 2023 và 2024 của Việt Nam lần lượt đạt 4,7% và 5,8%. Theo Trading Economics, dự báo tăng trưởng Quý IV/2023 của Việt Nam so với cùng kỳ năm trước đạt 5,1%.

Hình 7. Đánh giá tăng trưởng năm 2022 và dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2023 và 2024

Dự báo tình hình kinh tế thế giới quý IV và năm 2023 6

 

Nguồn: ADB, WB và IMF

Giống như Ma-lai-xi-a và Phi-li-pin, sau khi ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng hơn 8% trong năm 2022, kinh tế Việt Nam được các tổ chức quốc tế dự báo sẽ tăng trưởng thấp hơn dự kiến trong năm 2023, chỉ tăng từ 4,7%-5,2% và kỳ vọng sẽ đạt mức tăng trưởng cao hơn (khoảng 6%) trong năm 2024. Điều này khác với xu hướng tăng trưởng năm sau thấp hơn năm trước đối với dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu từ năm 2022-2024./.

(Nguồn: Vụ Thống kê nước ngoài và Hợp tác quốc tế – TCTK)

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *